Tư vấn thuế cho văn phòng đại diện nước ngoài
giúp đảm bảo tuân thủ pháp luật Việt Nam, xử lý nghĩa vụ thuế đúng quy định và hạn chế rủi ro pháp.


Xử lý hồ sơ trong 1-2 ngày

Tỷ lệ thành công 99%

Giá cả minh bạch, không phát sinh
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu, ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài chọn Việt Nam làm thị trường đầu tư. Văn phòng đại diện là một hình thức hiện diện thương mại của thương nhân nước ngoài ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi hoạt động tại đây, các văn phòng đại diện phải tuân thủ các quy định về thuế tại Việt Nam. Với đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp, Công ty Luật VT LAW tự tin cung cấp dịch vụ tư vấn thuế cho văn phòng đại diện nước ngoài và đồng hành cùng Quý Khách hàng
Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Thương mại 2005 thì thương nhân nước ngoài có quyền thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. Theo đó, Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép (Khoản 6 Điều 3 Luật Thương mại 2005).
Tại khoản 1 Điều 2 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2025 quy định như sau: “Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:
a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;
c) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo quy định của Luật Hợp tác xã;
d) Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập. ”.
Căn cứ Điều 17, Điều 18 Luật Thương mại 2005, văn phòng đại diện không được phép giao kết, thực hiện các hoạt động có sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam. Các hoạt động được thực hiện chỉ bao gồm các hoạt động xúc tiến thương mại như khuyến mại, quảng cáo, trưng bày, …
Do đó, văn phòng đại diện không phải là người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tại Điều 4 Luật thuế Giá trị gia tăng 2024 quy định: người nộp thuế giá trị kinh doanh gồm:
“ 1. Tổ chức, hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh).
2.Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu).
3.Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này; tổ chức sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ dầu khí và khai thác dầu khí của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam.
4.Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà cung cấp nước ngoài); tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài; tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp tính thuế giá trị gia tăng là phương pháp khấu trừ thuế mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thông qua kênh thương mại điện tử hoặc các nền tảng số thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp nước ngoài.
5.Tổ chức là nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay, kê khai số thuế đã khấu trừ cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, nền tảng số.”
Như vậy, văn phòng đại diện không tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nên không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, văn phòng đại diện có thể phát sinh nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng trong một số trường hợp:
Bắt đầu từ ngày 01/01/2026, chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài căn cứ khoản 7 Điều 10 Nghị quyết 198/2025/QH15
Văn phòng đại diện tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại Văn phòng đại diện nên phải có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế thu nhập cá nhân cho người lao động.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC, được sửa đổi bổ sung qua các thời điểm, văn phòng đại diện phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trước khi trả lương cho nhân viên.
Theo Điều 27 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 91/2014/NĐ-CP, Nghị định 12/2015/NĐ-CP, việc đăng ký thuế thu nhập cá nhân như sau:
Đồng thời, căn cứ Công văn 1200/BTC-TCT, có thể hiểu: Văn phòng đại diện nước ngoài phải thực hiện đăng ký thuế để được cấp Mã số thuế nộp thay theo quy định. Văn phòng đại diện nước ngoài sử dụng mã số thuế nộp thay để khấu trừ, nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho cá nhân làm việc tại văn phòng đại diện nước ngoài hoặc khấu trừ, nộp thuế thay cho nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài (nếu có).

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp, năng lực cao

Không phát sinh chi phí ẩn, hỗ trợ trả góp

Từ Startup đến doanh nghiệp lớn

Xử lý trong 1 – 2 ngày, hỗ trợ 24/7

Đúng quy định pháp lý thuế hiện tại

Đồng hành cùng bạn xuyên suốt hành trình kinh doanh
Nhận thông tin chi tiết về dịch vụ Tư vấn thuế cho văn phòng đại diện nước ngoài từ đội ngũ chuyên gia hàng đầu
Luật TV LAW tự hào được đồng hành cùng hơn 5000+ doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam